I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, ĐỊA DANH CÀ MAU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ
1. Lịch sử hình thành vùng đất Cà Mau
Là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), lịch sử thành tạo Cà Mau gắn liền với lịch sử thành tạo khu vực. Nhiều tài liệu nghiên cứu địa chất ĐBSCL đã ghi nhận: cách đây khoảng 6 triệu năm, vào chu kỳ tạo sơn Tân sinh, toàn khu vực đã chìm xuống biển, hình thành các bồn nhận trầm tích Nêôgen và Đệ tứ, hai thành tạo này ở Bạc Liêu, Cà Mau có chiều dày từ 70 đến 120m. Khu vực lại được nổi lên vào thời tiền băng hà Hôlôxen (mực nước biển thấp hơn hiện nay khoảng 120m), lục địa châu Á mở rộng tới Xumatơra (Inđônêxia). Thời kì băng tan (cách đây 17 đến 20 ngàn năm), nước biển dâng lên, tới độ cao cực đại, toàn bộ khu vực lại chìm dưới biển. Khoảng 5.000 năm trước, mực nước biển cao hơn hiện nay khoảng 4 đến 5 mét. Cùng với sự sụt võng của tầng phù sa cổ Pleistoxen và đóng góp to lớn trong sự bồi đắp của biển và sông Mêkông, tầng vật liệu giàu sét Hôlôxen càng dày lên. Sự sụt võng không đều của tầng Pleitoxen làm thành tạo Hôlôxen càng dày khi tiến về phía Nam. Khu vực Bạc Liêu, Cà Mau, lớp trầm tích này dày hàng trăm mét. Thời kì sau đó là biển thoái, mực nước hạ thấp dần, các lớp trầm tích mới có nguồn gốc khác nhau hình thành, phủ trên trầm tích biển: trầm tích sông, trầm tích sông - biển, trầm tích lòng sông cổ, trầm tích đầm lầy - biển, trầm tích than bùn v.v...
Cách đây khoảng 2.500 năm, phần lớn ĐBSCL đã được nổi lên và được phủ các cánh rừng ngập mặn hoặc ngập lợ. Riêng đồng bằng rìa châu thổ (vùng bán đảo Cà Mau) vẫn tiếp tục nhận sự bồi tụ của các dòng phù sa ven bờ, vừa mở rộng đồng bằng, vừa nâng cao bề mặt.
Với thềm lục địa mở rộng, biển nông, và bãi biển thoải, dòng biển Đông - Bắc ổn định vận chuyển vật liệu bồi tụ, mở rộng nhanh vùng Đất Mũi Cà Mau. Đoạn từ Đất Mũi đến Bảy Háp mỗi năm bồi mở thêm 40 đến 50m. Đất bãi bồi rộng cả chục ngàn hécta. Bên cạnh đó, cũng có những đoạn bờ biển đang diễn ra quá trình sụt lở. Đoạn bờ biển sụt lở nghiêm trọng nhất là từ Gành Hào tới Hố Gùi, khoảng hơn 33m/năm, Nam Hố Gùi đến Bắc Vàm Sấy, khoảng gần 23m/năm. Trung bình mỗi năm, diện tích đất lở của tỉnh lên tới hàng trăm hécta.
Nằm xa đới bồi tụ trực tiếp và thường xuyên của sông Cửu Long nên Cà Mau có địa hình thấp. Phần lớn lãnh thổ Cà Mau thuộc đồng bằng thấp, khá bằng phẳng, có độ cao từ 0,5m đến 1,5m. Hướng địa hình nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Những vùng trũng cục bộ Thới Bình, Cà Mau nối liền với Phước Long, Hồng Dân, Giá Rai (thuộc tỉnh Bạc Liêu) thuộc vùng trũng trung tâm bán đảo Cà Mau, quan hệ với địa hình lòng sông cổ. Những ô trũng U Minh, Trần Văn Thời là những vùng “trũng treo” nội địa được giới hạn bởi đê tự nhiên của dòng sông Ông Đốc, sông Cái Tàu, sông Trẹm và gờ đất cao ven biển Tây. Vùng “trũng treo” này trước đây quanh năm đọng nước, trở thành vùng đầm lầy phèn và phát triển mạnh tập đoàn thực vật úng phèn. Rừng tràm U Minh Hạ thuộc Cà Mau vào đầu thập kỉ tám mươi còn có diện tích hàng trăm ngàn héc ta. Qua nhiều thế hệ, các bồn trũng này dần được lấp đầy nhờ xác thực vật bị phân huỷ thành lớp than bùn, có nơi dày cả thước. Con người, thông qua hoạt động sản xuất cũng tác động rất lớn tới địa hình tự nhiên của tỉnh. Hàng ngàn ki lô mét kênh, mương, đường xá với hàng triệu mét khối đất được đào đắp trong nhiều thế hệ đã làm thay đổi đáng kể hình dạng bề mặt đồng bằng.
Bộ phận đảo ở Vịnh Thái Lan và Biển Đông diện tích nhỏ (xấp xỉ 0,2% diện tích đất liền của tỉnh). Đây là những mảnh sót lại của tầng nham cổ sụt võng. Nhiều tài liệu ghi nhận tuổi tuyệt đối của nó tới hơn 180 triệu năm (thuộc Jura giữa - Trung sinh). Hòn Buông có đỉnh cao 50m, Hòn Chuối 150m, Hòn Khoai tới 318m. Những đảo này có vị trí hết sức quan trọng trong việc khai thác biển, phát triển du lịch và bảo vệ chủ quyền vùng biển của tỉnh, của Tổ quốc.
2. Địa danh Cà Mau qua các thời kỳ lịch sử
Vào khoảng cuối thế kỷ XVI và những năm đầu thế kỷ XVII, lưu dân người Việt, Hoa, Khmer đến cư trú và sinh sống, hình thành “Xã Cà Mau”. Đầu thế kỷ XVIII, khi vùng đất này thuộc quyền quản lý của chúa Nguyễn, “Xã Cà Mau” thuộc trấn Hà Tiên.
Năm 1708, vùng đất Cà Mau do Mạc Cửu quản lý (lúc này ông làm Tổng binh trấn Hà Tiên). Mạc Cửu, di thần nhà Minh (Trung Quốc), không phục nhà Thanh, bỏ nước ra đi, đến vùng Mang Khảm (Hà Tiên), lập ra những xóm, thôn đầu tiên. Sau khi khai thác định cư khu vực Nam Sông Hậu, Mạc Cửu dâng vùng đất này (từ Hà Tiên đến Cà Mau) cho chúa Nguyễn.
Đến năm 1757, chúa Nguyễn Phúc Khoát thu nhận thêm vùng đất Ba Thắc, lập ra Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Sóc Trăng, Bạc Liêu). Toàn bộ vùng đất phương Nam thuộc về chúa Nguyễn.
Đến thời Vua Minh Mạng (1820 – 1840), “Xã Cà Mau” được nâng lên thành huyện Long Xuyên, thuộc tỉnh Hà Tiên.
Năm 1882, khi xâm chiếm nước ta, thực dân Pháp thành lập tỉnh Bạc Liêu là tỉnh thứ 21 của Nam Kỳ. Cà Mau là một trong 4 quận của tỉnh Bạc Liêu, là Cà Mau, Vĩnh Châu, Vĩnh Lợi và Giá Rai.
Năm 1947, thực dân Pháp sáp nhập quận Phước Long của tỉnh Rạch Giá vào tỉnh Bạc Liêu.
Từ năm 1947 đến 1950, Xứ ủy Nam bộ quyết định sáp nhập quận An Biên và Phước Long của tỉnh Rạch Giá vào tỉnh Bạc Liêu (đổi tên Phước Long thành Hồng Dân) và thành lập thêm 2 huyện mới là Ngọc Hiển và Trần Văn Thời. Huyện Ngọc Hiển thành lập cuối năm 1947, huyện Trần Văn Thời thành lập 1950. Ngày 25/3/1948, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 148/SL bãi bỏ các danh từ phủ, châu, quận. Cấp trên cấp xã và dưới cấp tỉnh nhất luật gọi là cấp huyện.
Ngày 5/9/1954, Xứ ủy quyết định thành lập hai tỉnh Rạch Giá và Hà Tiên, Tỉnh ủy Bạc Liêu giao hai huyện Hồng Dân và An Biên cho Rạch Giá. Địa giới Bạc Liêu còn lại các huyện Vĩnh Châu, Vĩnh Lợi, Giá Rai, Cà Mau, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển, Thới Bình và thị xã Bạc Liêu (huyện Thới Bình thành lập ngày 20/6/1956, theo tài liệu của chính quyền ngụy).
Ngày 9/3/1956, Chính quyền Sài Gòn lấy quận Cà Mau thời Pháp thuộc thành lập tỉnh Cà Mau (theo Sắc lệnh số 32-NV của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa). Đến ngày 22/10/1956 (theo Sắc lệnh 143-NV của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa), đổi tên tỉnh Cà Mau thành tỉnh An Xuyên. Ngày 5/8/1957, Bộ trưởng Bộ Nội vụ VNCH ký ban hành Nghị định số 246-BNV/NC/NĐ về việc tỉnh An Xuyên có 6 quận: Quản Long, Thới Bình, sông Ông Đốc, Đầm Dơi, Cái Nước, Năm Căn. Tỉnh lỵ là Quản Long. Các huyện còn lại của tỉnh Bạc Liêu sáp nhập vào tỉnh Sóc Trăng, thành lập tỉnh Ba Xuyên. Về phía chính quyền cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ lấy mật danh là U1.
Ngày 27/11/1973, Khu ủy Khu Tây Nam bộ quyết định tái lập tỉnh Bạc Liêu (tỉnh Cà Mau giao huyện Giá Rai cho tỉnh Bạc Liêu).
Sau khi miền Nam giải phóng, đến ngày 1/1/1976, hai tỉnh Cà Mau – Bạc Liêu hợp nhất thành tỉnh Cà Mau – Bạc Liêu. Ngày 10/3/1976, tên tỉnh Cà Mau – Bạc Liêu đổi thành tỉnh Minh Hải. Ngày 1/1/1997, tỉnh Minh Hải được tách thành hai tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu cho đến nay.