1. Lịch sử cộng cư và tình đoàn kết ba dân tộc Kinh – Khmer – Hoa nơi cực Nam
Trong tiến trình khai phá vùng đất cuối trời Nam Bộ từ cuối thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII, những lưu dân người Việt từ miền Trung, đồng bào Khmer bản địa và các nhóm cư dân người Hoa (chủ yếu là người Triều Châu, Quảng Đông theo chân dòng họ Mạc ở trấn Hà Tiên và vùng Bạc Liêu – Cà Mau) đã cùng nhau đắp đập, đào kênh, mở chợ trên dải đất phèn mặn bán đảo Cà Mau [1].
Trải qua hàng trăm năm chung lưng đấu cật trước thiên nhiên rừng rậm, sấu dữ và sóng gió biển khơi, ba cộng đồng dân tộc đã hình thành mối gắn kết bền chặt cả trong lao động sản xuất lẫn đời sống tinh thần. Tại thành phố Cà Mau hay thành phố Bạc Liêu, du khách dễ dàng bắt gặp hình ảnh ngôi đình thần của người Việt, ngôi chùa Khmer mái cong rực rỡ và ngôi miếu Bà Thiên Hậu của người Hoa nằm kề cận trên cùng một tuyến phố hoặc ven cùng một ngã ba sông [1, 2].
2. Sự hòa quyện trong kiến trúc tín ngưỡng và chuỗi lễ hội truyền thống quanh năm
Sự giao thoa văn hóa thể hiện rõ nét nhất qua đời sống lễ hội chung của cư dân bán đảo Cà Mau – Bạc Liêu [2]. Nếu Tết Nguyên đán, Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc (14–16 tháng 2 âm lịch tại huyện Trần Văn Thời, Cà Mau — Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia) và Lễ hội Quán Âm Nam Hải là dịp hội tụ của cư dân miền biển, thì Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây (tháng 4 dương lịch), Lễ Sene Đôlta và Lễ hội Ok Om Bok (Đút cốm dẹp cúng Trăng kết hợp đua ghe Ngo vào rằm tháng 10 âm lịch) của đồng bào Khmer lại trở thành ngày hội lớn thu hút đông đảo người Kinh và người Hoa cùng tham gia chúc mừng [2].
Ngược lại, tại các cơ sở tín ngưỡng của người Hoa như Thiên Hậu Cung Cà Mau (xây dựng năm 1882), chùa Bà Ма Châu (Bạc Liêu) hay lễ đấu đèn đầu xuân, người Việt và người Khmer trong vùng cũng đến dâng hương cầu phúc lộc, tạo nên nét đẹp bao dung và cởi mở rất riêng của văn hóa tâm linh phương Nam.
3. Dấu ấn giao thoa trong phương ngữ và ẩm thực thường ngày tại Cà Mau – Bạc Liêu
Ngay trong tên gọi các vùng đất và ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày, dấu ấn ba dân tộc đã hòa quyện tự nhiên: chữ 'Cà Mau' bắt nguồn từ tiếng Khmer 'Tưk Khmau' (nghĩa là vùng nước đen do lá tràm mục dưới tầng than bùn U Minh), 'Bạc Liêu' đọc trại theo âm tiếng Tiều từ địa danh 'Pô Lêu' của người Khmer, hay 'Sóc Trăng' từ chữ 'Srok Kh'leang' [3].
Trong mâm cơm của người dân Cà Mau – Bạc Liêu hôm nay, kỹ thuật ủ mắm cá, làm mắm ba khía của cư dân Khmer – Việt kết hợp hài hòa với nghệ thuật làm lạp xưởng, bánh pía, bánh tằm bì, hủ tiếu, xíu mại của người Hoa để tạo nên nền ẩm thực phong phú hiếm nơi nào sánh kịp [3]. Du khách ghé thăm Bà Ngoại Homestay Cà Mau sẽ được trực tiếp trải nghiệm không gian văn hóa bản địa sống động này qua từng món ăn và câu chuyện kể của người dân miệt thứ.
4. Bảng tổng hợp các di sản văn hóa tiêu biểu của ba dân tộc Kinh – Khmer – Hoa tại Bạc Liêu – Cà Mau
| Cộng đồng dân tộc | Công trình kiến trúc tiêu biểu | Lễ hội truyền thống đặc sắc | Di sản nghệ thuật & Ẩm thực |
|---|---|---|---|
| Dân tộc Kinh (Việt) | Đền thờ Lạc Long Quân, đình Tân Hưng, Quan Âm Cổ Tự, Khu lưu niệm Cao Văn Lầu | Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc (14–16/2 ÂL), Giỗ Tổ Hùng Vương, Tết Nguyên đán | Đờn ca tài tử Nam Bộ, truyện cười Bác Ba Phi, lẩu mắm, cá lóc nướng trui |
| Dân tộc Khmer | Chùa Monivongsa Bopharam (Cà Mau), chùa Cao Dân (Thới Bình), chùa Xiêm Cán (Bạc Liêu) | Tết Chôl Chnăm Thmây (tháng 4 DL), Lễ Sene Đôlta, Lễ Ok Om Bok – đua ghe Ngo | Nghệ thuật múa Rom Vong, nhạc ngũ âm, bún nước lèo, cốm dẹp |
| Dân tộc Hoa (Tiều, Quảng) | Thiên Hậu Cung Cà Mau (1882), chùa Phước Đức (chùa Ông Bổn Bạc Liêu) | Lễ vía Bà Thiên Hậu (23/3 ÂL), Tết Nguyên tiêu (15/1 ÂL), Lễ Vu Lan | Nghệ thuật múa lân sư rồng, bánh củ cải, bánh tằm xíu mại, heo quay |
Tài liệu và nguồn tham khảo chính thống
- [1] Địa chí tỉnh Cà Mau & Địa chí tỉnh Bạc Liêu: Lịch sử hình thành cư dân và giao lưu văn hóa ba dân tộc Kinh – Khmer – Hoa trên bán đảo Cà Mau.
- [2] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc (huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, công nhận năm 2021).
- [3] Viện Nghiên cứu Văn hóa – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam: Nguồn gốc địa danh Nam Bộ và sự tiếp biến văn hóa ẩm thực vùng Tây Nam Bộ.